ẨM THỰC HỘI AN
Trong kho tàng văn
hoá phi vật thể ở Hội An, ẩm thực đóng một vai trò rất quan trọng, nó góp phần
hữu hình hoá Hội An, làm cho Hội An trở nên gần gũi, khó quên trong lòng người
dân địa phương và để lại những ấn tượng sâu sắc đối với du khách.
Nhà
văn Thạch Lam, người có quan hệ gắn bó ruột thịt với Hội An, đã có lý khi viết
rằng: " Muốn biết rõ một thành phố không cần phải biết những lâu đài mỹ thuật,
những bảo tàng, những tờ báo hay những nhà văn, nhưng cần phải biết những chốn
mà dân thành phố ấy ăn chơi. Ăn và chơi đó là hai điểm hành động mà trong ấy
người ta tỏ rõ cái tâm tính; cái linh hồn mình một cách chân thực
nhất".
"Hội
An trăm vật trăm ngon
Từ
từ lỗ miệng cho chồng con được nhờ"
Hoặc
"Nửa
đêm gà gáy o o...
Đi
chưa tới chợ đã lo ăn hàng"
Thực tế Hội An đã
từng hấp dẫn bao "tao nhân mặt khách" bởi những món ăn đặc biệt dân giả nhưng
không kém phần sang trọng.
BÁNH BAO, BÁNH VẠC
Bánh bao và bánh vạc
thường đi đôi với nhau. Chúng giống nhau ở chỗ là nguyên liệu chính làm bằng bột
gạo và nhân (nhưn) của chúng khác nhau.
Trước
hết là mua gạo thơm ngon, làm sạch gạo xong cho vào ngâm nước, sau đó xay thành
bột. Yêu cầu nước phải trong, không nhiễm mặn, nhiễm phèn. Ở Hội An, người
ta thường dùng nước từ giếng Bá Lễ-một trong những giếng cổ có nước nước quanh
năm, trong vắt. Người ta phải bòng bột từ 15-20
lần.
Cùng với việc làm
bột, người thợ tiến hành làm nhưn bánh. Làm nhưn bánh được chia làm 2 giai đoạn:
nhưn bánh bao và nhưn bánh vạc.
Nguyên
liệu chính của bánh bao là tôm và gia vị. Tôm nước lợ thơm ngon, bỏ vỏ, rửa sạch
cho vào cối giã thành chả. Gia vị gồm hành, tiêu, vị tinh, muối. Tất cả được pha
trộn vào nhau và quết trong cối nhiều lần để tôm và gia vị thấm
đều.
Nguyên liệu của bánh
vạc có khác và đa dạng hơn gồm giá hột, nấm mèo, măng tre, lá hành xắt
nhỏ, thịt heo thái thành hạt lựu. Tất cả hỗn hợp nhưn này được cho vào xoong
cùng với gia vị như nước mắm, vị tinh, muối và xào thật
chín.
Bột
đã xong, nhưn đã chín. Người ta để chén dầu phộng bên cạnh và bắt đầu chế biến
bánh.
Người ta chấm hai
ngón tay vào dầu rồi thoa đều lên hai bàn tay. Lấy một ít bột vê đều, ấn ngón
tay vào giữa cục bột, các ngón tay khéo léo nắn bánh thành từng miếng thật
mỏng, đều. Sau đó dùng thìa múc một ít nhưn chả tôm đặt ngay ngắn vào giữa. Một
tay nâng nhẹ bánh tay kia dùng các ngón nắn phần trên tạo dáng cách
điệu như những cánh hoa hồng. Bánh hấp trong 10-15 phút là chín. Cuối cùng rãi
hành được khử và trãi lên bánh. Những chiếc bánh được trang trí màu trắng lại
nắn như hình dạng hoa hồng đã từng làm khách nước ngoài xúc động và thót lên
bằng từ tiếng Anh: White rose-Hoa hồng trắng.
Bánh
quai vạc thì dễ làm hơn thường gọi tắt là bánh vạc. Người ta vê bột mỏng và rộng
ra các phía, dùng thìa múc hỗn hợp nhưn vào rồi nhẹ nhàng dùng các ngón tay ép
bột dính kín lại nhau sau cho nhưn nằm gọn ở bên
trong.
Phần xếp bánh cũng
rất quan trọng, người ta xếp bánh vạc xung quanh bên dưới. Bánh vạc như những
hoa hồng được xếp lên trên. Cuối cùng rãi lớp hành được phi vàng lên
trên.
Một thứ nữa không
thể thiếu đó là nước chấm. Nước chấm này đặc biệt được chế biến từ nước luộc
tôm: không mặn, cũng không lạt
quá.
MỲ QUẢNG
Mỳ
Quảng xuất phát từ Quảng Nam. Người ta dùng gạo tốt ngâm nước cho mềm rồi xay
thành bột mịn (không đặc, không lỏng) pha thêm ít phèn sa để cho sợi mỳ được
giòn, cứng sau đó tráng thành lá mì. Để các lá mỳ không dính vào nhau, người ta
dùng dầu thoa lên bề mặt của chúng, sắc thành sợi. Nước nhưn mỳ (tiếng địa
phương gọi là nước lèo. Nước lèo cho mỳ Quảng được nấu bằng tôm, thịt lợn,
hoặc bằng thịt gà là phổ biến, có khi làm bằng cá lóc, thịt
bò...
Tôm được bỏ đầu, giã
dập, một số con được giữ nguyên con. Thịt heo là thịt "ba chỉ" thái mỏng
cho vào tôm và cùng ướp với gia vị: tiêu, hành, tỏi, rồi đem lên bếp để tô cho
thấm. Lại cho hành thơm và cà chua nấu đến chín. Nước nhưn mỳ không cần màu mè
mà phải trong và có vị
ngọt.
Rau sống để ăn với
mỳ Quảng là các loại rau mua từ làng rau Trà Quế nằm ở Đông Bắc phố cổ Hội
An. Ăn mỳ Quảng phải dùng rau Trà Quế mới đúng "tông" vì rau này
mới thể hiện hết cái mùi vị tổng hợp: cay, chát, ngọt, đắng... làm tôn thêm
hương vị của tô mỳ Quảng. Ở Hội An, thú vị nhất là ăn mỳ Quảng ngay trong phố
nhưng ngồi ở những chiếc ghế rất thấp thể hiện tính dân giã của người dân địa
phương. Để thêm mùi vị người ta rãi đậu phụng lên và người ăn mỳ Quảng không thể
thiếu bánh tráng (miền Bắc gọi là bánh đa)
Mùi thơm của rau, vị
béo của thịt của dầu, hương thơm của đậu phụng, chất giòn béo của bánh tráng,
tất cả những mùi ấy hợp lại rồi toả ra các mùi tổng hợp, khoái khẩu lạ thường là
món ăn đặt sản của Quảng
Nam.
BÁNH
BÈO
Trong
các món ăn chế biến từ gạo, sau mỳ Quảng, bánh bèo là món ăn ưa chuộng của
người dân Hội An, nhất là dân cư các vùng nông thôn.
Người
ta cũng chọn gạo ngon, ngâm nước, xây thành bột mịn. Bột gạo không lỏng cũng
không đặc, không nhão. Nước bột sau khi lấy tròng xong sẽ cho vào chén rồi sắp
lên vỉ tre đặt vào nồi để hấp. Bánh hấp xong được đặt chồng lên nhau. Khi chín
bánh trở nên trắng tinh, mềm mướt tạo thành một khối tròn ngộ nghĩnh. Chén
đựng bánh bèo là chén bằng đất nung tráng men, nhỏ hơn chén ăn thông
thường.
Nhưn
bánh bèo chủ yếu được làm từ tôm, thịt... Tôm bỏ đầu, băm nhỏ, thịt thái nhỏ
theo kiểu hạt lựu. Tất cả được ướp với gia vị, pha thêm chút bột điều cho tăng
phần màu tạo nét hấp dẫn cho món
ăn.
BÁNH
ĐẬP
Người
ta xây gạo thơm ngon thành bột, sau đó tráng bánh và thoa dầu phụng để chống
dính vào nhau. Lấy 2 bánh nướng kẹp vào nhau ở giữa là bánh ướt. Khi dọn lên thì
các bánh ướt và khô chông vào nhau. Người dùng thức ăn phải đập bánh dính vào
nhau.
Trong
món bánh đập này, nước mắm nêm là rất quan trọng, có thể nói là mắm nêm làm cho
món ăn trở nên mặn mà hơn. Mắm nêm được chế biến từ cá cơm. Nước để tạo nên mắm
nêm lấy từ nước hấp cá, nên thơm ngọt, do đó mắm nêm không tanh. Người ta cũng
không dùng nước trong quá trình chế biến vì như thế sẽ tránh mùi tanh của thức
ăn.
HOÀNH
THÁNH
Hoành
thánh là món ăn ảnh hưởng từ Trung Hoa. Tuy vậy, do quá trình giao lưu -
chuyển hoá diễn ra sâu sắc trên lĩnh vực ẩm thực nên món hoành thánh ở Hội
An có một khoảng cách khá xa so với nguyên gốc.
Có
một số tên gọi cho món ăn này. Ở Hội An, người ta gọi là hoành thánh, trong khi
đó ở miền Bắc và một số địa phương khác thì gọi là mằn thắn hoặc vằn thắn. Có
một người Hội An giải thích về nguồn gốc của món ăn như sau: Tương truyền vua
Càn Long bị giặc cướp rượt đuổi và đi lạc đường. Trong lúc bụng đói, vị vua đập
cửa một quán nhỏ tại một ngôi làng hẻo lánh để mua thức ăn. Rủi thay, thức ăn đã
bán sạch. Do đói quá vua Càn Long bảo có món gì dọn lên cũng được. Quán
chỉ còn bột mỳ, tôm sống và vài quả trứng gà. Chủ quán yêu cầu nhà vua
ngồi đợi rồi nhanh chóng trộn bột, bằm tôm, nặn bánh và chế biến thành một món
ăn mà từ trước đến giờ chưa từng làm. Trong cơm đói vua Càn Long đã sơi không
còn để lại gì. Vua đã đặt tên cho món ăn này là hoành thánh. Hoành đọc theo
tiếng Quảng Đông là "vân" nghĩa là mây, thánh đọc theo tiếng Quảng Đông là
"thôn" nghĩa là nuốt. Nhân bánh làm theo dạng hình tròn trông giống mặt trăng.
Nghĩa chung của các từ là "mây nuốt trăng"
Nguyên
liệu làm bánh này là bột mỳ, tôm, trứng gà hoặc trứng vịt. Trộn bột mỳ, trứng và
nước theo tỉ lệ vừa phải, sau đó nhồi cho thật nhuyễn. Dùng vật tròn, nặng, cán
bột trên một chiếc bàn dài, phẳng. Bột cán càng mỏng bánh càng dẻo,
mềm.
Nhân
bánh làm bằng tôm giã đều với gia vị hành tiêu, tỏi, nước mắm và quết nhuyễn.
Đặt vỏ bánh lên bàn tay, múc nhưn tôm đổ vào giữa, gói lại và bẳt đều các mí cho
thật cứng. Nước nhưn của hoành thánh lại nấu bằng xương heo. Xương chín thì vớt
hết khỏi nồi. Cho thêm vào đó nấm rơm, su, thơm, nấu chín, nêm gia vị và hạ
lửa.
Thường
thì người ta bỏ 7-10 chiếc bánh trong
bát.
CAO
LẦU
Nói
đến cao lầu ở Hội An, người ta thường liên tưởng đến cao lâu ở Hà Nội. Nhà thơ
Trần Tế Xương đã từng tự thú: "nghiện trà, nghiện thuốc nghiện cả cao
lâu..." Nhưng món ăn cao lầu ở Hội An thì có nét riêng
biệt.
Hoa
kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn của họ, người Minh Hương cũng vậy.
Còn một số nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng cao lầu có nét giống mỳ vùng Ice. Họ
đã từng đem món ăn đó đến Hội An để so sánh, cuối cùng họ đã nhận ra, cao lầu có
những điểm khác biệt. Trong ký ức dân gian người ta phát hiện trước kia món ăn
này được gọi là "mỳ gỗ". Khác với mỳ Quảng, cao lầu thường dùng trong
chốn đô thị.
Nguyên
liệu làm cao lầu là thịt xíu, tép
mỡ.
Sợi cao lầu được chế
biến rất công phu. Gạo được ngâm vào nước tro, sau đó say thành bột, đem
hấp và phơi khô để làm sợi mỳ cao lầu. Người ta nói rằng, tro nấu từ củi Cù Lao
Chàm vì tro này chứa nhiều muối. Nước nấu cao lầu, người ta cũng lấy từ giếng Bá
Lễ rất mát và không có phèn. Nước nhưn được lấy từ nước thịt xíu. Để bớt béo
người ta trụng rau sống để thêm vào món ăn. Rau trong món ăn này cũng được lấy
từ rau ở Trà Quế.
Sợi
cao lầu không mềm mà phải giòn. Thịt được dùng phải là thịt heo cỏ. Gia vị được
chế biến là nước đường, xì dầu, nước mắm, thịt
thơm.
BẮP
Bắp
mà người ta nấu thường là bắp đám.
Để
nấu bắp, người ta phải chặt chui bắp, sau đó cho vào nấu liền và phải nấu bằng
nước sông. Dân gian cho rằng bắp qua sông là không ngon. Họ giải thích rằng khi
qua sông là đã dâng thần Hà Bá rồi nên ăn vào không còn ngon nữa. Thế nhưng có
lý luận cho rằng ngày xưa sông rộng đi thuyền xa, do bị hóp nắng nên bắp bị mất
chất. Lý luận này nghe có vẻ thuyết phục.
Nếu
bắp được nấu ngay thì sẽ ngọt, nấu từ nước sông thì sẽ xanh. Hơn nữa chất đất
cũng rất quan trọng. Ở Hội An, Cẩm Nam có bắp ngon nhất vì nơi đó có đất phù
sa.
XÍ
MÀ
Nhiều
người cho rằng, xí mà là món ăn có nguồn gốc Trung Hoa hoặc do người Minh
Hương du nhập vào.
Trước
hết ta bàn về tên gọi của nó.
Theo
tiếng Quảng Đông, Trung Quốc, xí mà được đọc từ âm chí mà. Âm chí mà có nghĩa là
mè đen, phù có nghĩa là hủ (hủ ở đây không có nghĩa là hủ để
đựng).
Nguyên
liệu nấu xí mà là mè đen, ngoài ra còn có bột khoai, thanh địa, rau má, rau mơ,
đường, những thứ này là nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Chỉ có thanh
địa là một vị thuốc Đông y người ta phải mua từ tiệm
thuốc.
Cách
nấu xí mà như sau: người ta đem mè xay nát thành bột mịn, rau má rau mơ
cĩng đem giã hoặc xay nát, vắt lấy nước cốt. Sau đó pha với nước sôi rồi cho bột
khoai vào làm cho hỗn hợp sền sệt lại. Vị thanh địa nấu cùng sẽ giúp cho xí mà
đen, lạ, hấp dẫn.
BÁNH ÍT LÁ GAI
Nguyên liệu làm bánh
ít lá gai. Lá gai phải đúng độ tuổi, không non mà cũng không gia. Hái xong lá
thì tước sống lá. Gĩa lá càng nhuyễn thì bánh càng dẻo, thơm.
Đậu
xanh để làm nhưng bánh phải được đãi sạch, bóc vỏ, ngâm nước rồi cho đường vào
quết nhuyễn, viên chúng thành những viên nhỏ. Bọc bên ngoài bằng một lớp da lá
gai vừa đủ kín. Sau đó thoa một lớp dầu phụng để chống dính. Cuối cùng dùng lá
chuối bên ngoài gói thành những chiếc bánh hình tháp. Bánh ít Cù Lao Chàm lớn
hơn, hương vị đậm đà hơn do có sẵn nguồn lá gai mọc nhiều ở các khu rừng ven
đảo.
NƯỚC CHÈ XANH
Nước
chè xanh là một loại nước lá thường được dùng phổ biến ở Hội An, phổ biến nhất
là người dân sống tại Cù Lao Chàm. Trước hết, người ta nhặt một số loại lá cây
rừng về phơi khô rồi chặt nhỏ. Người ta nấu nước lá chè xanh rồi uống hằng
ngày.
Vào
mồng 5 tháng 5 âm lịch, người dân Hội An thường mua lá này về nấu nước uống. Có
một số gia đình dùng nước lá này suốt cả năm.
Tác
dụng của lá chè xanh rất tốt. Nước chè xanh mà chúng ta dùng lâu dài sẽ
giúp chúng ta ăn ngon miệng, ngủ khoẻ, miễn giảm một số bệnh nan y và kéo dài
tuổi thọ.
Nguồn:
VPHDTQ Hội An